Khi phát hiện các hành vi vi phạm về An toàn thực phẩm hãy liên hệ đường dây nóng 02393.950.789. Xin cảm ơn!
60nam qltt

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý

Thứ hai - 26/12/2016 05:08
Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (ATTP) trong thời gian qua cũng đã huy động được cả hệ thống chính trị vào cuộc từ Trung ương cho đến các địa phương; thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng xã hội, người tiêu dùng. Có thể nói rằng công tác đảm bảo về ATTP chưa bao giờ cấp bách như hiện nay
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh   thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý
BÁO CÁO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh   thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý”
(Đang đề nghị Hội đồng khoa học - công nghệ tỉnh công nhận)
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Bối cảnh của đề tài/giải pháp
Công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm (ATTP) trong thời gian qua cũng đã huy động được cả hệ thống chính trị vào cuộc từ Trung ương cho đến các địa phương; thu hút sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng xã hội, người tiêu dùng. Có thể nói rằng công tác đảm bảo về ATTP chưa bao giờ cấp bách như hiện nay. Được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền cơ bản đối với mỗi con người. An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe mà còn liên quan chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội. Rõ ràng là vấn đề an toàn thực phẩm ngày càng được nhìn nhận có tầm quan trọng đặc biệt. Thực phẩm an toàn đóng góp to lớn đối với việc cải thiện sức khoẻ con người và chất lượng cuộc sống cũng như về lâu dài, đối với phát triển giống nòi.
Trong thời gian qua, các cấp các ngành đã có nhiều nỗ lực trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm. UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng đã vào cuộc quyết liệt, có sự chuyển biến theo hướng tích cực và được ghi nhận ở nhiều địa phương, đặc biệt ở trên địa bàn thành phố, thị xã... Tuy nhiên, nếu nhìn về tổng thể, công tác bảo đảm an toàn thực phẩm vẫn là vấn đề thách thức rất lớn ở tỉnh ta nhất là ở những vùng sâu vùng xa. Ngộ độc thực phẩm và các mối nguy đe dọa mất an toàn thực phẩm tiếp tục là những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế. Các giải pháp giải quyết vấn đề này đang được đặt ra rất cấp bách.
          II. Lý do chọn đề tài/giải pháp
Để kịp thời khắc phục những tồn tại, hạn chế nói trên, ngành Công Thương được Chính phủ giao quản lý 6 nhóm mặt hàng trong lĩnh vực ATTP vì vậy bản thân chúng tôi đang công tác trong lĩnh vực này đã giành nhiều thời gian công sức suy ngẫm và trăn trở, nổ lực để tìm ra “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng Công Thương quản lý”; góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và đảm bảo an sinh xã hội.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi áp dụng đề tài: Trên địa bàn toàn tỉnh Hà Tĩnh.
Giới hạn lĩnh vực: Trong công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng Công Thương quản lý.
Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Các sở, ngành có liên quan, Chi cục QLTT tỉnh, UBND các huyện, thành phố, thị xã; UBND các xã, phường, thị trấn; Ban quản lý các chợ; các hộ tham gia sản xuất kinh doanh thương mại dịch vụ.
IV. Mục đích nghiên cứu
- Đề xuất, bổ sung các giải pháp cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng Công Thương quản lý.
- Thay đổi nhận thức, ý thức trách nhiệm và hành động của các sở, ngành và chính quyền địa phương các cấp trong công tác quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng Công Thương quản lý.
- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về An toàn vệ sinh thực phẩm đối với 6 nhóm mặt hàng do Công Thương quản lý cho các tổ chức cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh. Đồng thời giúp người tiêu dùng có thể lựa chọn được những thực phẩm đảm bảo an toàn.
- Qua quá trình nghiên cứu đề tài sáng kiến để kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung cơ chế chính sách, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý nhà nước về An toàn vệ sinh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng Công Thương quản lý. Nhằm hoàn thiện, đồng bộ hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chức năng trong quá trình thực thi công vụ.
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu
Đánh giá đúng thực trạng về tình hình đảm bảo an toàn thực phẩm đối với 6 nhóm mặt hàng Công Thương quản lý trên địa bàn Hà Tĩnh. Giúp cơ quan quản lý nắm chắc được các cá nhân, tổ chức SXKD thực phẩm trên địa bàn.
Đề xuất một số giải pháp, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban, ngành trong công tác chỉ đạo, điều hành nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về An toàn vệ sinh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng Công Thương quản lý.
Đúc rút những kinh nghiệm trong việc thực hiện quản lý nhà nước (QLNN) về ATTP trên địa bàn.
Tham mưu UBND các huyện thành phố, thị xã, chính quyền địa phương cấp xã, Ban quản lý chợ các giải pháp thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về An toàn vệ sinh thực phẩm.
Kiềm chế và tiến tới đẩy lùi được tình trạng vi phạm về ATTP trên địa bàn toàn tỉnh và bảo vệ được sức khỏe cho người tiêu dùng.
B. PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
- Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010 của Quốc hội;
- Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 59/2010/QH12 ngày 17/11/2010 của Quốc hội;
- Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều Luật An Toàn thực phẩm;
- Quyết định 2406/QĐ-TTg ngày 18/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2012-2015;
- Quyết định số 20/QĐ-TTg ngày 4/1/2012 của Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia An toàn thực phẩm giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn 2030;
- Quyết định số 4455/QĐ-UBND ngày 31/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về phê duyệt Đề án quản lý chuổi sản xuất, bảo quản, tiêu thụ lương thực, thực phẩm đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn Hà Tĩnh đến năm 2020;
- Công văn số 208/UBND-NL ngày 15/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về việc triển khai đợt cao điểm hành động năm vệ sinh ATTP trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Kế hoạch số 86/KH-UBND ngày 31/3/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về tháng hành động ATTP năm 2016.
- Kế hoạch số 114/KH-BCĐ 389 ngày 20/4/2016 của Ban chỉ đạo 389 tỉnh Hà Tĩnh về việc tăng cường chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát đấu tranh chống sản xuất nhập khẩu trái phép phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ và chất cấm trong chăn nuôi, chế biến thực phẩm;
- Kế hoạch số 242/KH-UBND ngày 02/8/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;
- Quyết định số 23/2013/QĐ-UBND ngày 24/6/2013 của UBND tỉnh Hà Tĩnh ban hành Quy định phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh;
          - Quyết định số 21/2016/QĐ-UBND ngày 06/6/2016 của UBND tỉnh
về phân cấp quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc trách nhiệm của ngành Công Thương trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh cho UBND cấp huyện quản lý.
II. Thực trạng của vấn đề
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, thực phẩm không an toàn đang đe dọa sức khỏe người tiêu dùng. Khi tiêu dùng các loại thực phẩm không an toàn, người tiêu dùng đã phải trả giá quá đắt bằng sức khoẻ, thậm chí cả tính mạng của mình do bị ngộ độc thực phẩm. Hiện có không ít người tiêu dùng không quan tâm đến vấn đề ATTP khi mua các thực phẩm thiết yếu tiêu dùng hàng ngày (đường, sữa, bánh kẹo, cá, thịt, bún, chả, rau, củ quả,thức ăn....) ở các cửa hàng, nhà hàng hoặc quầy bán lẻ tại các chợ, trung tâm thương mại.. Các hóa chất độc hại như thuốc bảo vệ thực vật (thuốc trừ sâu, trừ bệnh và thuốc trừ cỏ dại...), kim loại nặng, các vi sinh vật gây bệnh có trong các loại rau quả hoặc các chất kháng sinh, các chất phụ gia cấm sử dụng như hàn the, formol… sẽ tích lũy dần trong các mô mỡ, tủy sống...của con người là tiền đề để phát sinh các loại bệnh tật như ung thư, loãng xương, suy giảm trí nhớ và thoái hóa xương khớp. Trong thực tế hàng ngày vẫn diễn ra các vụ ngộ độc thực phẩm: Nhẹ thì buồn nôn, chóng mặt, đi ngoài, đau đầu....., khi bị nặng mới vào viện cấp cứu. Vì vậy các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh mới chỉ thống kê được các vụ ngộ độc thực phẩm nặng (cấp tính), ngoài ra còn vô vàn các vụ ngộ độc thực phẩm nhẹ hoặc mãn tính diễn ra hàng ngày thì không cơ quan, đơn vị nào có thể thống kê được. 
Thời gian qua, lực lượng chức năng của tỉnh Hà Tĩnh đã kiểm tra, phát hiện, xử lý, ngăn chặn hàng trăm cơ sở vi phạm, trong đó có những vụ lớn, góp phần giảm thiệt hại cho người tiêu dùng. Từ năm 2011-2016, toàn tỉnh tiến hành thanh kiểm tra trên 62 ngàn lượt cơ sở thực phẩm, số cơ sở vi phạm về an toàn thực phẩm 17.975 lượt cơ sở (chiếm 27,2 %), số tiền xử phạt vi phạm hành chính hơn 5,5 tỷ đồng (trong đó ngành Công Thương xử lý 3.271 vụ vi phạm với tổng số tiền hơn 4,7 tỷ đồng). Các hành vi vi phạm chủ yếu là nhân viên không khám sức khỏe, nguyên liệu không có nguồn gốc xuất xứ, thực phẩm bẩn, sử dụng các chất cấm trong chế biến thực phẩm… Bún, bánh phở, giò, chả bị nhiễm formol, hàn the, các chất cấm trong chế biến… Tuy nhiên, hiện nay các loại thực phẩm bán tại chợ rất nhiều loại như: rau, củ quả, cá, thịt, bún, chả…không có có nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ, do việc nguồn cung cấp nhỏ lẽ manh mún, tự sản xuất, tự chế biến rất khó cho kiểm soát….   
Cùng với đó, do bất chấp đạo lý và vì lợi nhuận, những người trồng rau, củ quả… đã sử dụng bừa bãi các hoá chất bảo vệ thực vật như các loại thuốc cấm, thuốc có độ độc cao, thuốc ngoài danh mục được phép sử dụng để phun trừ các loại sâu bệnh trên các loại rau quả thiết yếu tiêu thụ hàng ngày, tiêm thuốc kích thích cho quả mau chín, ngâm ủ giá đỗ bằng các hóa chất tăng trưởng độc hại...đã làm tích luỹ một dư lượng lớn các hoá chất độc hại trong các loại rau quả. Ngoài ra nhiều người trồng rau đã dùng nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi để tưới rau làm cho hàm lượng kim loại nặng và vi sinh vật gây bệnh trong rau quả cao hơn nhiều so với quy định của Bộ Y tế...Đó cũng là nguyên nhân làm phát sinh các bệnh cấp tính và mãn tính trên địa bàn dân cư, nhất là tại thành phố và các thị trấn trên địa bàn của tỉnh.
Đặc biệt, một số cửa hàng ăn uống sử dụng các loại gia vị, phẩm mầu không được phép của Bộ Y tế để chế biến các món ăn rất “hấp dẫn” người tiêu dùng. Nhiều cửa hàng chế biến thức ăn không đảm bảo tiêu chuẩn ATTP. Đó là nguyên nhân phát sinh và lan truyền dịch bệnh trong cộng đồng. Ngoài ra các loại thực phẩm thiết yếu khác cũng chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ người tiêu dùng như: Các loại rượu dùng hàng ngày do các gia đình tự nấu và pha chế, rượu giả ở các cửa hàng ăn uống chứa độc tố methanol ở liều lượng cao gấp hàng chục lần cho phép (độc tố này chứa nhiều trong rượu sắn và cồn công nghiệp, khi uống bị đau đầu và suy giảm thị lực) mà các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo. Các loại hải sản, bánh kẹo, nước mắm, bún, bánh phở.....chứa Foormol, hàn the… mà người chế biến và buôn bán đã dùng để bảo quản thực phẩm để tránh ôi thiu và nấm mốc. Đây là một hoá chất cực kỳ độc hại, có thể gây ung thư dạ dày và ung thư phế quản.
Trong những năm qua, các cơ quan chức năng của tỉnh Hà Tĩnh đã có một số giải pháp nhằm đảm bảo ATTP cũng như tạo hành lang pháp lý để bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng. Song vấn đề đảm bảo ATTP hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn và bất cập chưa có các giải pháp đồng bộ để thực hiện hiệu quả.
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
1.Giải pháp về rà soát cập nhật, mã hóa cơ sở dữ liệu các tổ chức, cá nhân SXKD thực phẩm trên địa bàn:
Ngay từ đầu năm đã chỉ đạo lực lượng QLTT đóng trên địa bàn các huyện, thị xã, thành phố tiến hành thống kê, rà soát các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh chế biến lĩnh vực thực phẩm trên địa bàn quản lý; mã hóa xây dựng phần mền cơ sở dữ liệu đưa vào sổ bộ theo dõi quản lý một cách có hệ thống, cập nhật bổ sung các biến động tăng, giảm kịp thời, để từ đó phân loại đối tượng quản lý, ngành nghề kinh doanh có các giải pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng, từng nhóm lĩnh vực kinh doanh. Đến nay việc rà soát, thống kê đã hoàn thành và đã thiết kế phần mềm mã hóa cơ sở dữ liệu cụ thể: Toàn tỉnh có trên 6.796 cơ sở thực phẩm (trong đó: 772 cơ sở sản xuất; 3.309 cơ sở kinh doanh; 2.715 cơ sở dịch vụ ăn uống); được mã hóa như sau: cơ sở sản xuất thực phẩm (SXTP 001 đến SXTP 772); cơ sở kinh doanh chế biến thực phẩm (KDCBTP 0001 đến KDCBTP 3.309) và cơ sở dịch vụ ăn uống (DVAU 0001 đến DVAU 2.715) giúp cho công tác truy cập thông tin để quản lý một cách thuận lợi và nhanh chóng.
2.Giải pháp về thông tin, giáo dục và truyền thông ATTP:
- Cập nhật đầy đủ các quy định của nhà nước về vấn đề đảm bảo ATTP xây dựng cẩm nang. Tổ chức nhiều hình thức tuyên truyền đến từng người tiêu dùng và cơ sở sản xuất kinh doanh như: phát tờ rơi, in băng đĩa, pha nô, áp phích…..Tận dụng tối đa hệ thống thông tin, truyền thông  sẵn có ở địa phương, xã phường, thị trấn tổ chức một cách thường xuyên, liên tục; đặc biệt đưa công tác giáo dục truyền thông về ATTP vào các dịp lễ, tết, các sự kiện lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội hàng năm của đất nước, của tỉnh. Phân công cụ thể trách nhiệm thực hiện công tác thông tin, giáo dục và truyền thông thay đổi hành vi cho từng đơn vị và đoàn thể có trách nhiệm lập kế hoạch và triển khai các hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông cho các nhóm đối tượng đặc thù của ngành mình quản lý (trong thời gian tới kiến nghị bổ sung nhiệm vụ truyền thông về ATTP cho các mạng lưới tuyền thông phường xã, thậm chí cấp huyện, tỉnh; mỗi tuần phải có ít nhất 2 lần phát thanh, truyền hình, báo…).
- Sử dụng cách tiếp cận phù hợp với từng đối tượng cụ thể để tuyên truyền, vận động, chú trọng hình thức truyền thông trực tiếp, truyền thông theo nhóm nhỏ; tuyên truyền lưu động. Do đó công tác tuyền truyền, giáo dục hướng dẫn pháp luật về ATTP đã đến tận vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người… trong năm đã thực hiện hàng chục lượt tuyên truyền cho hàng ngàn đối tượng cụ thể như sau:
+ Thông qua việc kiểm tra, xử lý lực lượng QLTT kết hợp với tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn các quy định của pháp luật trong hoạt động thương mại cho 3.271 hộ kinh doanh.
+ Thực hiện 12 đợt tuyên truyền lưu động qua hệ thống loa phóng thanh trên địa bàn toàn tỉnh; phát 700 băng đĩa tuyên truyền cho các huyện, thành phố, thị xã để thực hiện tuyên truyền qua hệ thống loa phát thanh các xã, phường, thị trấn, Ban quản lý các chợ; phát trên 30.000 tờ rơi.
+ Tuyên truyền bằng hình thức chạy chữ trên chương trình thời sự của Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh; Lãnh đạo Chi cục tham gia đối thoại trực tiếp trên truyền hình về công tác an toàn thực phẩm.
+ Thông báo số điện thoại đường dây nóng của lực lượng QLTT trên địa bàn toàn tỉnh, số điện thoại đường dây nóng về ATTP (0393.950.789).
+ Tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.
+ Chạy bảng điện tử, treo băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền trong các ngày lễ, tháng hành động vì an toàn thực phẩm tại trụ sở các cơ quan đơn vị.
3.Giải pháp về đào tạo nâng cao ý thức trách nhiệm đối với cơ sở sản xuất kinh doanh:
Trên cơ sở rà soát thống kê các cơ sở kinh doanh trên địa bàn; xây dựng kế hoạch tổ chức tập huấn cập nhật những kiến thức về ATTP cho các đối tượng tổ chức cá nhân SXKD thực phẩm coi đây là tiêu chí bắt buộc trước khi tiến hành kinh doanh và cấp giấy ĐKKD. Trong năm đã tổ chức tập huấn cho hàng trăm cá nhân tham gia sản xuất kinh doanh thực phẩm trên địa bàn; từ đó nhận thức về ATTP của các cơ sở SXKD đã được nâng lên, nhiều cơ sở đã biết tự phòng ngừa, tập thói quen khi mua nguyên liệu để chế biến thực phẩm đã tìm hiểu nguồn gốc xuất xứ, chất lượng sản phẩm; yêu cầu cung cấp hóa đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ….nhiều doanh nghiệp đã xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức trong kinh doanh cũng đã được đặt ra. Năm 2015-2016 tổ chức 09 lớp đào tạo, tập huấn về an toàn thực phẩm cho trên 1.000 người là chủ cơ sở, người trực tiếp liên quan đến sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm. Kiểm tra, cấp giấy xác nhận kiến thức an toàn thực phẩm cho 1.250 người; tổ chức ký cam kết chấp hành pháp luật trong hoạt động thương mại đối với trên 25.000 lượt hộ kinh doanh.
Đồng thời tổ chức nhiều đợt tập huấn kiến thức quản lý nhà nước về ATTP cho các đối tượng làm công tác QLNN, ban quản lý chợ, cán bộ xã phường thị trấn và lực lượng kiểm tra kiểm soát thị trường.
4. Giải pháp nghiệp vụ về cài cắm cơ sở; nhân mối cung cấp thông tin:
- Xác định việc cung cấp thông tin các vụ việc vi phạm là hết sức quan trọng vì vậy trong thời gian qua chúng tôi đã đề xuất lập đường dây nóng cung cấp thông tin về vi phạm ATTP thuộc lĩnh vực Công Thương quản lý (0393.950789) qua đó khi mọi người tiêu dùng phát hiện các hành vi vi phạm cung cấp kịp thời cho lực lượng chức năng tiến hành kiểm tra xử lý; nhờ vậy trong năm qua người tiêu dùng đã tố giác hàng trăm vụ vi phạm, hỗ trợ rất lớn trong việc kiểm tra xử lý.
 - Phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cộng đồng dân cư để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về công tác ATTP đến đông đảo quần chúng nhân dân, để người dân không tham gia, không tiếp tay cho buôn lậu, gian lận thương mại và sản xuất, kinh doanh thực phẩm bẩn, thực phẩm không an toàn…sử dụng các biện pháp nghiệp vụ vận động, thuyết phục thu nạp, tập hợp đội ngũ “Cộng tác viên ATTP” trực tiếp tập huấn, hướng dẫn   nghiệp vụ, chuyên môn; cách nhận biết thực phẩm bẩn, thực phẩm không đảm bảo chất lượng…tạo ra mạng lưới công tác viên ATTP rộng khắp toàn tỉnh (đến nay có khoảng hơn 250 cộng tác viên ATTP) sẵn sàng hỗ trợ, cung cấp thông tin, tố giác các hành vi vi phạm về ATTP kịp thời cho các lực lượng chức năng bắt giử và xử lý. Đồng thời đội ngũ cộng tác viên ATTP đã tuyền truyền vận động người dân tẩy chay thực phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ…Trong các vụ vi phạm bị phát hiện xử lý có đến 2/3 là do đội ngũ cộng tác viên ATTP cơ sở phát hiện cung cấp thông tin. Với hiệu quả này tiến tới sẽ đề xuất thành lập “Hội cộng tác viên ATTP” trên địa bàn toàn tỉnh tạo sự lan tỏa trở thành phong trào toàn dân phòng chống thực phẩm bẩn, thực phẩn không đảm bảo chất lượng.
Nhờ vậy trong năm qua do làm tốt công tác nghiệp vụ cài cắm cơ sở, nhân mối cung cấp thông tin lực lượng chức năng đã kiểm tra xử lý hàng ngàn vụ vi phạm và thu nộp ngân sách chục tỷ đồng.
5. Giải pháp về cập nhật thông tin công khai các hành vi vi phạm, khuyến cáo người tiêu dùng:
Cập nhật danh sách các cơ sở sản xuất kinh doanh, chế biến thực phẩm vi phạm về vệ sinh ATTP và các hình thức xử lý; cơ quan QLNN phối hợp với các cơ quan truyền hình, báo chí tăng cường các bài viết, chuyên mục về ATTP; đưa tin, tuyên truyền khách quan, trung thực, kịp thời về thực phẩm an toàn, nhất là các điển hình sản xuất, chế biến, lưu thông thực phẩm an toàn và đặc biệt là các vụ việc vi phạm ATTP; để khuyến cáo cho người tiêu dùng cập nhật được thông tin, biết lựa chọn ở đâu kinh doanh thực phẩm sạch, ở đâu kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn; để sử dụng tiêu dùng hoặc tẩy chay (trong thực tế triển khai chúng tôi tiến hành kiểm tra xử lý hàng trăm vụ việc vi phạm ở nhiều nhà hàng, khách sạn…có nhiều vụ xử phạt hàng chục triệu đồng, các cơ sở vi phạm đều chấp nhận nộp phạt nhưng sợ nhất là đưa lên truyền hình, báo chí… thì sau này các nhà hàng khách sạn này sẽ không có khách đặt ăn uống, cưới hỏi, sinh nhật, hội họp .v.v) . Đây có thể nói là giải pháp hiệu quả nhất.
Thời gian qua Chi cục QLTT đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng cung cấp thông tin thực hiện 371 phóng sự trên truyền hình, 369 bài viết trên các báo, 153 tin bài trên trang thông tin điện tử của Chi cục, 27  bài trên bản tin Công Thương, 03 bài viết trên trang thông tin điện tử của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tỉnh về công tác kiểm tra, xử lý của lực lượng QLTT để tuyên truyền, khuyến cáo người tiêu dùng và răn đe các đối tượng vi phạm.
6. Giải pháp về tăng cường công tác kiểm tra thanh tra và xử lý vi phạm (xây dựng kế hoạch chuyên đề chuyên sâu kiểm tra, kiểm soát vệ sinh ATTP):
 Năm qua UBND tỉnh, các ngành chức năng đã xây dựng kế hoạch chú trọng tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm cụ thể như: Kế hoạch số 86/KH-UBND ngày 31/3/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về tháng hành động ATTP năm 2016; Kế hoạch số 114/KH-BCĐ 389 ngày 20/4/2016 của Ban Chỉ đạo 389 tỉnh Hà Tĩnh về việc tăng cường chỉ đạo công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát đấu tranh chống sản xuất nhập khẩu trái phép phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản giả, kém chất lượng, không rõ nguồn gốc xuất xứ và chất cấm trong chăn nuôi, chế biến thực phẩm; Kế hoạch số 242/KH-UBND ngày 02/8/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh; Kế hoạch số 507/KH-BCĐ ngày 31/3/2016 của Ban Chỉ đạo liên ngành VSATTP tỉnh về hoạt động chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2016; đặc biệt ngành Công Thương đã có Kế hoạch số 04/KH-SCT ngày 04/01/2016 về đảm bảo an toàn thực phẩm. Trong đó giao cho bộ phận chuyên môn rà soát tham mưu phương pháp, xây dựng cẩm nang chuyên sâu kiểm tra lĩnh vực ATTP, kinh doanh nhà hàng, khách sạn. Nhờ vậy kết quả bước đầu thu được rất khả quan, nhiều vụ việc phát hiện có hành vi vi phạm lớn, xử lý nghiêm, có tính lan tỏa răn đe cao…. do đó tình hình chấp hành về ATTP được nâng lên một bước, từng bước lập lại trật tự, kỷ cương trong kinh doanh thực phẩm.
Tham mưu, kiến nghị các ngành chức năng, chính quyền địa phương vào cuộc quyết liệt trong công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Trong năm 2016, các sở, ngành chức năng đã đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra và hậu kiểm việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn thực phẩm tại các cơ sở; xử lý kịp thời và có hiệu quả các thông tin người dân phản ánh về tình trạng thực phẩm không bảo đảm chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn. Toàn tỉnh đã thanh tra, kiểm tra được 12.695 lượt cơ sở; xử phạt vi phạm hành chính 1.949 lượt cơ sở (chiếm 15,35 %) với số tiền gần 3,9 tỷ đồng (tăng 35% so với năm 2015). Tiêu hủy nhiêu hàng hóa thực phẩm vi phạm về ATTP có giá trị trên 1 tỷ đồng (tăng 27,9% so với năm 2015).
IV. Hiệu quả mang lại của sáng kiến
Sau khi triển khi thực hiện sáng kiến (từ tháng 01/2016-12/2016) đã tạo chuyển biến rõ nét “nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý” trên các mặt như sau:
- Tạo được chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý; xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, thường xuyên và liên tục.
 - Hoàn thiện cơ sở dữ liệu về cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm nhằm phục vụ cho công tác quản lý; qua đó giúp tỉnh đánh giá đúng thực trạng về tình hình đảm bảo ATTP của tỉnh để đưa ra các chương trình, kế hoạch thực hiện tốt hơn trong thời gian tới, nhằm bảo vệ hợp pháp quyền lợi người tiêu dùng.
- Ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý trên địa bàn được nâng lên; giảm thiểu tối đa các vụ việc vi phạm về ATTP.
- Giúp người tiêu dùng bảo vệ được chính mình thông qua việc lựa chọn những sản phẩm đảm bảo chất lượng.
- Khi phát hiện thực phẩm không đảm bảo an toàn hoặc xảy ra tình trạng ngộ độc có thể truy xuất được nguồn gốc xuất xứ thực phẩm.
- Công tác phối kết hợp và xác định vai trò trách nhiệm trong công tác đảm bảo ATTP giữa các ngành chức năng, các lực lượng kiểm tra, kiểm soát mang lại hiệu quả cao hơn.
- Các huyện, thị, thành phố có phần mềm dử liệu và số liệu lưu trữ đảm bảo cho việc quản lý được chặt chẽ hơn.
Hiệu quả mang lại của sáng kiến đã được các cấp, các ngành đánh giá cao góp phần thiết lập lại kỷ cương trong sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm; nhằm bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội.
V. Khả năng ứng dụng và triển khai
Sáng kiến hoàn toàn có khả năng tiếp tục triển khai áp dụng trên địa bàn toàn tỉnh. Trong thời gian tới tác giả tiếp tục theo dõi, nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện để việc áp dụng sáng kiến ngày càng hiệu quả.
VI. Ý nghĩa của sáng kiến
Việc áp dụng sáng kiến đã góp phần thay đổi nhận thức, ý thức và hành động của các sở, ban, ngành có liên quan và chính quyền địa phương trong công tác cấp và quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý. Bên cạnh đó nâng cao vai trò trách nhiệm của tổ chức cá nhân tham gia sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm. Đồng thời khuyến cáo cho người tiêu dùng lựa chọn mua sắm tiêu thụ những sản phẩm đảm bảo ATTP. Giúp UBND tỉnh đánh giá đúng thực trạng công tác an toàn thực phẩm thuộc 6 nhóm mặt hàng ngành Công Thương quản lý, từ đó hoạch định những chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển thời gian tới; đồng thời giúp cho người tiêu dùng yên tâm hơn khi mua sắm tiêu dùng thực phẩm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của chính bản thân họ.
C. PHẦN KẾT LUẬN
I. Những bài học kinh nghiệm
Việc triển khai thực hiện sáng kiến nhóm đã rút ra một số bài học kinh nghiệm:
- Việc triển khai thực hiện cần có chương, kế hoạch cụ thể, trong đó phân công trách nhiệm rõ ràng, quy định về thời gian bắt đầu, thời gian kết thúc và các nội dung cần triển khai.
- Phải phát huy được cả hệ thống chính trị vào cuộc trong công tác đảm bảo ATTP mới đưa lại hiệu quả cao.
- Phải làm cho người tiêu dùng hiểu biết về quyền lợi của mình và tác hại của việc sử dụng sản phẩm thực phẩm không đảm bảo an toàn.
- Trong quá trình thực hiện phải đảm bảo sự quyết liệt nghiêm túc, tránh tình trạng dễ làm, khó bỏ, thiếu cương quyết, ngại va chạm…
          - Phải thường xuyên có sự kiểm tra, đôn đốc và đánh giá kết quả thực hiện của các ngành chức năng và các địa phương.
II. Những kiến nghị, đề xuất
Quá trình thực hiện sáng kiến phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, liên tục và lâu dài. Những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu cần phải tiếp tục cải tiến nhằm mang lại hiệu quả cao hơn.
Để hiệu quả của sáng kiến có tính bền vững, nhóm tác giả kính đề nghị Hội đồng xét, công nhận sáng kiến cấp tỉnh kiến nghị với cấp có thẩm quyền một số đề xuất sau:
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và chính quyền các cấp đối với công tác bảo đảm ATTP:
- Khẳng định vai trò quan trọng của các cấp ủy Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác bảo đảm ATTP. Các cấp ủy Đảng thường  xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, chỉ đạo đưa công tác bảo đảm ATTP trở thành mục tiêu ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
- Ban hành các văn bản, chỉ thị của các cấp ủy Đảng chỉ đạo công tác bảo đảm ATTP. Đưa công tác bảo đảm ATTP vào nội dung thảo luận ở các kỳ đại hội và các văn kiện, nghị quyết và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng.
- Phát huy tính chủ động của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác bảo đảm ATTP. Đưa công tác bảo đảm ATTP thành một trong những nội dung thường kỳ của các cuộc họp chi bộ.
- Tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với công tác bảo đảm ATTP:
- Đề nghị Quốc hội tăng cường chỉ đạo công tác xây dựng pháp luật, đầu tư ngân sách cho công tác bảo đảm ATTP. Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của Quốc hội, các Ủy ban, Hội đồng dân tộc của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và từng đại biểu Quốc hội cũng như Hội đồng nhân dân các cấp đối với công tác bảo đảm ATTP.
- Hội đồng nhân dân các cấp có các Nghị quyết về công tác bảo đảm ATTP. Định kỳ hàng năm công tác bảo đảm ATTP được báo cáo tại các kỳ họp của Hội đồng nhân dân các cấp. Hoạt động bảo đảm ATTP phải được cụ thể hóa trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
2. Đề xuất Chính phủ:
- Sớm có phương án đảm bảo kinh phí cho công tác quản lý ATTP theo hướng cho phép các ngành, các địa phương chủ động sử dụng toàn bộ số tiền phạt vi phạm ATTP và có kinh phí tăng cường từ ngân sách nhà nước bảo đảm đáp ứng yêu cầu công tác này, đặc biệt là kinh phí cho kiểm nghiệm, xử lý tiêu hủy thực phẩm không an toàn.
- Chỉ đạo các ngành, các địa phương kiểm soát chặt chẽ việc nhập khẩu, sản xuất, sử dụng các chất, thuốc trong quá trình sản xuất, chế biến thực phẩm; tập trung xử lý dứt điểm việc sử dụng salbutamol, vàng ô, kháng sinh trong sản xuất, chế biến thực phẩm.
3. Tăng cường sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp và các ngành chức năng trong tổ chức thực hiện công tác bảo đảm ATTP:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về ATTP trên địa bàn quản lý; bên cạnh đó ưu tiên bố trí đủ nguồn lực cho công tác này; xác định việc bảo đảm ATTP là một tiêu chí xây dựng nông thôn mới, khu dân cư văn hóa. Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp chỉ đạo và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, thực hiện nhiệm vụ quản lý ATTP của cơ quan nhà nước cấp dưới; kiên quyết xử lý cán bộ, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý.
- Thủ trưởng các ngành: Công thương, Y tế, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh, kiểm tra đột xuất về ATTP đối với ngành hàng được phân công, xử lý theo thẩm quyền và kiến nghị xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm và các cơ quan, công chức thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý ATTP.
4. Tăng cường năng lực hệ thống kiểm nghiệm ATTP:
- Đầu tư kinh phí xây dựng nâng cấp một số phòng thí nghiệm để đạt tiêu chuẩn quốc gia, nâng cao năng lực các phòng thí nghiệm phân tích hiện có; khuyến khích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tham gia đầu tư mới các phòng thí nghiệm...
- Tăng cường đầu tư trang thiết bị cho các tuyến, từng bước hiện đại hóa trang thiết bị kiểm nghiệm ATTP nhằm nâng cao chất lượng xét nghiệm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Nói tóm lại: Để làm tốt công tác vệ sinh ATTP thực chất phải thực hiện chuổi liên kết đồng bộ các giải pháp “4N” từ nhà sản xuất chế biến, nhà kinh doanh buôn bán, đến nhà quản lý và người tiêu dùng./.

Tác giả bài viết: Nguyễn Thừa Đoàn - Phó Chi cục trưởng

Nguồn tin: CHI CỤC QLTT HÀ TĨNH

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

VĂN BẢN PHÁP LUẬT

50/2016/NĐ-CP

Nghị định xử phạt trong lĩnh vực KHĐT

Lượt xem:659 | lượt tải:49

49/2016/NĐ-CP

49/2016/NĐ-CP

Lượt xem:665 | lượt tải:76

105/2016/QH13

Luật dược

Lượt xem:627 | lượt tải:65

Pháp lệnh QLTT

Pháp lệnh Quản lý thị trường

Lượt xem:1569 | lượt tải:65

124/2015/NĐ-CP

Nghị định 124/2015/NĐ-CP

Lượt xem:743 | lượt tải:78
VIDEO PHÓNG SỰ
ĐƯỜNG DÂY NÓNG XĂNG DẦU
banner trai
    Thống kê truy cập
    • Đang truy cập18
    • Hôm nay6,566
    • Tháng hiện tại256,753
    • Tổng lượt truy cập4,386,719
    60 NĂM XÂY DỰNG & PHÁT TRIỂN
    THÀNH VIÊN
    Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
    HOCTAPBAC
    Thăm dò ý kiến

    Bạn biết gì về Chi cục QLTT Hà Tĩnh

    CHẠY TRÁI
    CHẠY PHẢI
    CHẠY TRÁI
    CHẠY PHẢI
    Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây